Tin thư viện
Tài liệu tiếng Việt
Đề tài NCKH
Giáo trình - Bài giảng
Kiến thức chứng khoán
Hỏi đáp
Đề tài “Những vấn đề cơ bản trong việc hình thành và phát triển công ty chứng khoán Việt Nam”

Đề tài “Những vấn đề cơ bản trong việc hình thành và phát triển công ty chứng khoán Việt Nam”

 

Chủ nhiệm đề tài: PTS. Vũ Bằng

Đơn vị chủ trì: Vụ QLKD Chứng khoán UBCKNN

Mã đề tài: UB.1999.04

LỜI MỞ ĐẦU

Khi một doanh nghiệp muốn huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán, không phải tự họ bán đi lấy số chứng khoán mà họ phát hành. Họ không thể làm tốt được việc đó bởi họ không có bộ máy chuyên môn. Họ cần có những người chuyên nghiệp phát hành chứng khoán cho họ. Tương tự như vậy, các nhà đầu tưu không tự đến Sở giao dịch chứng khoán để mua bán vì họ không có chuyên môn, không thông hiểu các quy tắc nghề nghiệp và với số quá đông các nhà đầu tư, việc mua bán sẽ trở nên lộn xộn. Các công ty chứng khoán, với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, và bộ máy tổ chức thích hợp, họ sẽ là  người trung gian  môi giới mua bán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác  cho cả người đầu tư và người phát hành.

Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lưu thông  buôn bán tấp nập trên thị trường chứng khoán, qua đó, một số lượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ từ những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng tập hợp lại.

 Công ty chứng khoán có ba chức năng chủ yếu sau:

Tạo ra cơ chế huy động vốn bằng cách nối những người có tiền (nhà đầu tư)với những người muốn huy động vốn (Người phát hành chứng khoán, ví dụ như các công ty cổ phần, chính phủ…)

  1. Cung cấp một cơ chế giá cả  cho giá trị của các khoản đầu tư
  2. Cung cấp cơ chế  chuyển ra tiền mặt cho các nhà đầu tư.

Khi thực hiện các chức năng của mình, công ty chứng khoán đồng thời cung cấp thêm một số dịch vụ khác như tư vấn đầu tư, lưu ký chứng khoán, đăng ký sở hữu,… cho các cá nhân đầu tư, các công ty cổ phần và cả chính phủ nữa.

 Vai trò huy động vốn

Các ngân hàng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư đều là trung gian tài chính với vai trò  huy động vốn. Nói một cách đơn giản, các tổ chức này có vai trò làm chiếc cầu nối  và là kênh dẫn vốn chảy từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa về các bộ phận  khác đang có nhu cầu huy động vốn. Các công ty chứng khoán thường đảm nhiệm vai trò này qua các hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán.

 Vai trò làm cơ chế giá

Ngành công nghiệp chứng khoán nói chung, công ty chứng khoán nói riêng, thông qua các Sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC, có chức năng cung cấp  một cơ chế giá cả nhằm giúp các nhà đầu tư  có được sự đánh giá đúng thực tế và chính xác  về giá trị khoản đầu tư của mình. Toàn bộ các lệnh mua bán chứng khoán được tập hợp tại các thị trường giao dịch tập trung thông qua các công ty chứng khoán và trên cơ sở đó giá cả chứng khoán sẽ được xác định theo cung cầu. Các Sở giao dịch chứng khoán niêm yết giá cổ phiếu của các công ty từng ngày một trên báo tài chính. Ngoài ra, giá chứng khoán của nhiều công ty lớn không được niêm yết ở Sở giao dịch cũng có thể được công bố trên các tờ báo tài chính.

Công ty chứng khoán còn có một chức năng quan trọng là can thiệp  trên thị trường, góp phần điều tiết giá chứng khoán. Đối với một số nước theo hệ thống khớp giá điều này được thể hiện rất rõ, với những nước theo hệ thống ghép lệnh cũng có những quy định này. Ví dụ như ở Mỹ, công ty chứng khoán bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và bán ra khi giá chứng khoán cao.

 Vai trò làm cơ chế chuyển ra tiền mặt

Các nhà đầu tư luôn muốn có khả năng  chuyển tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định. Các công ty  chứng khoán đảm nhận được chức năng chuyển đổi này, giúp cho nhà đầu tư ít bị thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư. Trong hầu hết các nghiệp vụ đầu tư ở Sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC ngày nay, một nhà đâu tư có thể hàng ngày chuyển đổi tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại mà không phải chịu thiệt hại đáng kể với giá trị khoản đầu tư của mình (ít nhất  thì cũng không chịu thiệt hại do cơ chế giao dịch chứng khoán gây nên). Nói cách khác, có thể có một số nhân tố  bên ngoài ảnh hưởng đến giá trị đầu tư , chẳng hạn như tin đồn về một vấn đề nào đó  trong nền kinh tế, nhưng giá trị khoản đầu tư nói chung không giảm đi do cơ chế giao dịch của thị trường.

 Thực hiện tư vấn đầu tư

Các công ty chứng khoán với dịch vụ đầy đủ các chúng loại không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng, mà còn tham gia vào dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua  việc nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho các công ty và các nhà đầu tư. Dịch vụ tư vấn có thể gồm:

-  Thu thập thông tin phục vụ cho mục đích của khách hàng

-  Cung cấp thông tin về các khả năng đầu tư khác nhau cũng như triển vọng ngắn và dài hạn của các khoản đầu tư  đó trong tương lai.

-  Cung cấp thông tin về chính sách tiền tệ của Chính phủ  có liên quan đến các khoản đầu tư  mà khách hàng đang cân nhắc.

 Tạo ra các sản phảm mới

Trong mấy năm gần đây, chủng loại chứng khoán đã phát triển  với tốc độ rất nhanh do một số nguyên nhân, trong đó yếu tố dung lượng thị trường và biến động thị trường ngày càng lớn, nhận thức rõ ràng hơn của khách hàng đối với thị trường tài chính  và sự nỗ lực trong tiếp thị các công ty chứng khoán.

Ngoài cổ phiếu (thường và ưu đãi) và trái phiếu đều đã được biết đến, các công ty chứng khoán hiện nay còn bán trái phiếu chính phủ (Trung ương và địa phương) chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền lựa chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạng khác phù hợp với thay đổi trên thị trường và môi trường kinh tế.

 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu kết luận đề tài gồm 3 chương

Chương I. Những nội dung cơ bản liên quan đến tổ chức, hoạt động của công ty chứng khoán

Chương II. Mô hình công ty chứng khoán các nước và bài học

Chương III.Những nội dung cơ bản trong việc thúc đẩy hình thành phát triển và quản lý các công ty chứng khoán.

 

 

 

 

MỤC LỤC

 

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I.

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

I.

Mô hình tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán

1.1.

Các hình thức tổ chức kinh doanh chứng khoán

1.2.

Hình thức pháp lý của công ty chứng khoán

1.3.

Những nét đặc trưng trong tổ chức của công ty chứng khoán

II.

Điều kiện thành lập công ty chứng khoán

III.

Thủ tục cấp phép hoạt động cho công ty chứng khoán

IV.

Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán

V.

Những nguyên tắc đạo đức  và nguyên tắc tài chính đối với công ty chứng khoán

5.1.

Nguyên tắc đạo đức

5.2.

Nguyên tắc tài chính

CHƯƠNG II.

MÔ HÌNH CÔNG TY CHỨNG KHOÁN CÁC NƯỚC VÀ CÁC BÀI HỌC

1.

Mô hình Mỹ

2.

Mô hình Nhật

3.

Mô hình Đức

4.

Công ty chứng khoán theo quy định của các nước EU

5.

 Mô hình tại một số thị trường châu Á điển hình

CHƯƠNG III.

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG VIỆC THÚC ĐẨY HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ QUẢN LÝ CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

I.

Thực trạng hình thành và phát triển  các công ty chứng khoán ở Việt Nam

II.

Kiến nghị mô hình tổ chức  vận hành công ty chứng khoán  ở Việt Nam

2.1.

Mô hình công ty chứng khoán ở các nước trên thế giới

2.2.

Mô hình công ty chứng khoán ở Việt Nam

2.3.

Dự kiến cơ cấu tổ chức và chức năng của các bộ phận thuộc công ty chứng khoán

2.4.

Kiến nghị về cơ cấu các loại hình tham gia kinh doanh chứng khoán

III.

Các chính sách nhằm hỗ trợ và khuyến khích công ty chứng khoán

IV.

Các giải pháp thúc đẩy hình thành và phát triển công ty chứng khoán

4.1.

Các giải pháp liên quan đến hệ thống pháp lý và mô hình công ty chứng khoán

4.2.

Các giải pháp liên quan đến việc hỗ trợ thành lập và cấp phép thành lập cho các công ty chứng khoán

4.3.

Các giải pháp liên quan đến giải pháp tin học cho hệ thống công ty chứng khoán trong thời g ian trước mắt và lâu dài

4.4.

Các giải pháp về đào tạo cán bộ cho các công ty chứng khoán

4.5.

Các giải pháp liên quan đến việc quản lý, giám sát và thanh tra các công ty chứng khoán

4.6.

Dự kiến số lượng công ty chứng khoán

4.7.

Đề xuất thời gian biểu thành lập công ty kinh doanh chứng khoán

 

KẾT LUẬN

(Nguồn: Thư viện SRTC)

 

 

Mã sách: UB.1999.04
Chủ biên: PTS. Vũ Bằng
Năm xuất bản: 1999

      
Tài liệu cùng chủng loại:
Hoạt động Thư viện Trung tâm NCKH&ĐTCK (23/04/2018-14:20)
Xây dựgn hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác vận hành và quản lý của TTGDCK
Tính toán dự án đầu tư
Những văn bản pháp luật về thuế
Làm chủ Microsoft Windows 2000 Server (tập 1)
Đề tài “Hoàn thiện công tác đào tạo, quản lý người hành nghề kinh doanh chứng khoán trên...
“Thị trường chứng khoán – Nhà đầu tư cần biết ” (Phần 2-Chủ...  (04/09/2018-08:23)
“Thị trường chứng khoán – Nhà đầu tư cần biết” (Phần 1 - Chủ...  (04/09/2018-08:20)
“Thị trường chứng khoán – Nhà đầu tư cần biết” (Phần 1 - Chủ...  (20/08/2018-09:17)
Làm thế nào để mượn được thẻ Thư viện mượn sách ?
Các lớp chiêu sinh học tháng 8/2018 (06/09/2018-10:44)
Thông báo thi sát hạch đợt II năm 2018 (04/09/2018-09:29)
Thông báo thi chuyên môn ngày 25/07 đến 27/07/2018 (20/07/2018-10:28)
Các lớp chiêu sinh tháng 07/2018 (12/07/2018-08:33)
* Đăng ký học (06/02/2018-10:32)
Chiêu sinh các lớp tháng 07 và 08/2017 (05/09/2017-15:59)

Trung tâm Nghiên cứu khoa học và Đào tạo chứng khoán

7324915
Trụ sở chính:
Địa chỉ: 234 Lương Thế Vinh, Phường Trung Văn, Quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại: (84-24) 3553 5874 (P. Đào tạo) - 3553 5870 (P. Hành chính)        Fax: (84-24)3553 5869
Chi nhánh tại Tp. Hồ Chí Minh:
Địa chỉ: số 264B Lê Văn Sỹ, Phường 14, Quận 3, Tp.HCM
Điện thoại: (84-28) 3930 9040 - (84-28) 3930 9042


  Trang thông tin điện tử Trung tâm NCKH&ĐTCK: Giấy phép số 347/GP-BC, Bộ Văn hóa - Thông tin cấp ngày 23/11/2006
 Trưởng Ban biên tập: Giám đốc Trung tâm - Ông Hoàng Mạnh Hùng